Đọc hiểu văn bản “Từ Thức gặp tiên” trích “Từ thức” | Đề đọc hiểu thi vào 10 THPT Hà Huy Tập

Đề Đọc hiểu văn bản Từ Thức gặp tiên nằm trong bộ Đề Thi vào 10 trường THPT Hà Huy Tập. Đề đọc hiểu bám sát chương trình học, có đáp án và thang chấm điểm chi tiết kèm theo ở bản word.

Đọc kĩ đoạn trích “Từ Thức gặp tiên” dưới đây, sau đó trả lời các câu hỏi:

(Tóm tắt phần đầu: Năm Quang Thái đời nhà Trần, có người Hóa Châu làm tri huyện Tiên Du, tên là Từ Thức. Cạnh huyện đường, có một ngôi chùa. Trong chùa có cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở, người đến xem rất đông. Có người con gái không may làm gãy cành hoa, bị bắt đền. Từ Thức cởi áo gấm chuộc lỗi hộ. Từ Thức tuy làm quan nhưng không mẫn cán, lại thêm tính hay rượu, thích đàn, ham thơ, mến cảnh, bèn trả áo mũ, chu du khắp nơi. Từ Thức vào một hang động, lạc tới cõi tiên. Chàng lấy tiên nữ Giáng Hương, người con gái đánh gãy cành hoa ngày ấy. Ở cõi tiên chừng một năm, Từ Thức nhớ quê nên xin về thăm.)

   ……Như Từ, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương Nam. Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:

– Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.

Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:

– Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?

Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói:

– Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chốn làng mây bến nước.

Giáng Hương khóc mà nói:

– Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa.

Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:

– Không ngờ chàng lại mắc mớ vì mối lòng trần như vậy.

Nhân cho một cỗ xe cẩm vân để chàng cưỡi về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:

– Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình ngày cũ.

Rồi tràn nước mắt mà chia biệt.

Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc mầu xanh thủa nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:

– Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi.Chàng bấy giờ mới hậm hực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu: “Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên bể dịp khác còn đâu!” mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.

(Trích “Từ Thức”, “Truyền kỳ mạn lục”, bản dịch của Trúc Khê – Ngô Văn Triện. NXB Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học TP. HCM, in lại năm 1988)

Câu 1: Chỉ ra đặc điểm không gian và thời gian của truyện truyền kỳ thể hiện trong đoạn trích?

Xem lời giải

➡ Không gian truyện mang yếu tố <strongkì ảo và thực xen lẫn:

– Từ chốn nhân gian (chùa, huyện đường, quê nhà) đến cõi tiên (hang động, làng mây, bến nước) → vừa mang dấu ấn thực tế, vừa huyền ảo, bay bổng.

➡ Thời gian có tính chất :

– Ở cõi tiên một năm, nhưng dưới trần gian đã là 80 năm → thời gian giữa hai cõi không đồng nhất, thể hiện đặc điểm **dị biệt, hoang đường** của thể loại truyền kỳ.

Câu 2: Xác định đâu là lời của người kể chuyện, đâu là lời của nhân vật và tác dụng của chúng trong đoạn trích sau:

  “Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:

– Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?”

 

Xem lời giải

➡ Lời của người kể chuyện: “Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng…”

➡ Lời của nhân vật: từ câu nói của Từ Thức bên dưới – biểu hiện trực tiếp tâm trạng và mong muốn của nhân vật.

➡ Tác dụng:

– Kết hợp giữa lời kể và lời thoại làm cho câu chuyện sống động, giàu kịch tính và cảm xúc.

– Giúp người đọc hiểu rõ nỗi nhớ quê da diết của Từ Thức – một tâm trạng chân thật, nhân văn của con người, dù đang ở chốn thần tiên

Câu 3: Tìm yếu tố Hán Việt đồng âm với yếu tố “ kỳ” trong từ “ thời kỳ”, cho biết nghĩa của từng yếu tố

Xem lời giải

➡ Một số từ Hán Việt đồng âm với “kỳ” trong “thời kỳ”:

1. Kỳ (期): nghĩa là khoảng thời gian (→ thời kỳ: một giai đoạn cụ thể).

2. Kỳ (奇): nghĩa là kỳ lạ, khác thường (ví dụ: kỳ diệu, kỳ quái).

3. Kỳ (旗): nghĩa là cờ (ví dụ: quốc kỳ).

4. Kỳ (棋): nghĩa là cờ (trò chơi – ví dụ: kỳ thủ, kỳ nghệ).

➡ Mặc dù đồng âm nhưng mỗi chữ “kỳ” mang nghĩa và cách dùng khác nhau, tạo nên sự phong phú của từ Hán Việt.

Câu 4. Nêu nội dung của văn bản?

Xem lời giải

 Văn bản kể lại câu chuyện về Từ Thức – một vị quan từ bỏ chốn quan trường để sống tự do, lạc vào cõi tiên và nên duyên với tiên nữ Giáng Hương. Sau một năm, vì nỗi nhớ quê nhà, Từ xin trở về nhân gian. Nhưng khi quay lại, thời gian đã trôi qua 80 năm, tất cả đã thay đổi, và cánh cửa tiên giới không còn mở ra cho chàng nữa.Văn bản kể về Từ Thức – một người từ bỏ chốn quan trường, lạc vào cõi tiên và sống hạnh phúc bên tiên nữ Giáng Hương. Tuy nhiên, vì nỗi nhớ quê nhà, chàng xin trở về trần gian và nhận ra thời gian đã trôi qua 80 năm, tất cả đều thay đổi, còn bản thân không thể quay lại tiên giới. Câu chuyện vừa mang màu sắc huyền ảo, vừa chan chứa triết lý sâu sắc về thời gian, khát vọng, sự lựa chọn và nỗi cô đơn của con người tài hoa trong xã hội phong kiến.

Câu 5: Nêu ý nghĩa của chi tiết : “Như Từ, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được” ?

Xem lời giải

“Như Từ, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được.”

Đây là chi tiết nghệ thuật đặc sắc thể hiện tâm trạng bâng khuâng, hoài niệm của Từ Thức khi sống nơi tiên giới. Hình ảnh thiên nhiên: gió, trăng, ao sen… gợi nỗi nhớ quê sâu sắc, là sự trỗi dậy của tình cảm cội nguồn – dẫn đến quyết định trở về nhân gian. Đồng thời, chi tiết này cũng mở ra bước ngoặt định mệnh, nhấn mạnh thông điệp về cái giá của sự lựa chọn và sự vô thường của kiếp người.

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online